Trong những năm gần đây, tình trạng xây dựng nhà trên đất của người khác diễn ra khá phổ biến tại một số địa phương, tạo ra nhiều phản ứng không đồng thuận trong cộng đồng. Có những trường hợp dù chủ đất đã báo cáo với cơ quan chức năng và biên bản vi phạm đã được lập, nhưng công trình vẫn tiếp tục được xây dựng.
Điều này cho thấy sự coi thường pháp luật và sự cần thiết phải áp dụng nghiêm khắc các biện pháp xử lý nhằm răn đe và ngăn chặn hành vi vi phạm này. Vậy, xây nhà trên đất người khác đứng tên bị xử lý hay không? Và trong trường hợp đó, người xây nhà có phải tháo dỡ, khôi phục lại tình trạng ban đầu để trả lại đất cho chủ sở hữu hợp pháp không? Hãy cùng Công ty Luật Phú Thanh tìm hiểu chi tiết trong bài viết dưới đây.
1. Xây nhà trên đất người khác đứng tên có bị phạt không?
Theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 102/2024/NĐ-CP và điểm c khoản 4 Điều 7 Nghị định 226/2025/NĐ-CP có quy định như sau:
– Đất ở là đất làm nhà ở và các mục đích khác phục vụ cho đời sống trong cùng một thửa đất. Đất ở bao gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị, cụ thể như sau:
– Đất ở tại nông thôn là đất ở thuộc phạm vi địa giới đơn vị hành chính xã, trừ đất ở đã thực hiện dự án xây dựng đô thị mới theo quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn nhưng vẫn thuộc địa giới đơn vị hành chính xã;
– Đất ở tại đô thị là đất ở thuộc phạm vi địa giới đơn vị hành chính phường và đất ở nằm trong phạm vi địa giới đơn vị hành chính xã mà đã thực hiện dự án xây dựng đô thị mới theo quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn.
Bên cạch đó, theo Điều 9 Luật Đất đai 2024 quy định: Đất ở thuộc nhóm đất phi nông nghiệp
Như vậy, đất được dùng để xây nhà là đất ở thuộc nhóm đất phi nông nghiệp
Xây nhà trên đất người khác đứng tên có bị phạt không?
Theo khoản 4 Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định hành vi lấn đất hoặc chiếm đất phi nông nghiệp không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP mà thuộc địa giới hành chính của xã thì hình thức và mức xử phạt như sau:
– Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với diện tích dưới 0,02 héc ta;
– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích từ 0,02 héc ta đến dưới 0,05 héc ta;
– Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;
– Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với diện tích từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;
– Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta;
– Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với diện tích từ 01 héc ta trở lên.

2. Vậy khi nào việc xây dựng trái phép, xây nhà trên đất người khác bị xử lý hình sự?
Pháp luật hiện hành phân định khá rõ giữa xử lý dân sự, hành chính và xử lý hình sự. Không phải mọi trường hợp xây dựng trái phép đều bị hình sự hóa nhưng khi hội đủ các dấu hiệu dưới đây, cơ quan tiến hành tố tụng có thể khởi tố vụ án hình sự.
2.1. Xâm phạm nghiêm trọng quyền sử dụng đất
– Điều 228 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định: Người nào lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
– Trong trường hợp phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 điều 228 BLHS , thì bị phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 2 tỉ đồng hoặc phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.
– Dấu hiệu cần lưu ý: Người vi phạm cố tình tái phạm, bất chấp quyết định xử phạt trước đó.
2.2. Gây thiệt hại lớn về tài sản
– Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 BLHS) sẽ áp dụng nếu việc thi công làm hư hỏng tài sản của chủ đất (hạ tầng, cây trồng, công trình hiện hữu) đạt ngưỡng định lượng trong luật.
– Có thể bị xử lý hình sự nếu thuộc trường hợp điều 178 BLHS như sau: Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp tại khoản 1 điều 178 BLHS, thì bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
– Trường hợp phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.
2.3. Hành vi có tính chất ngang ngược, thách thức pháp luật
– Nếu người vi phạm bị lập biên bản, đình chỉ thi công nhưng vẫn tiếp tục xây dựng, coi thường mệnh lệnh của cơ quan có thẩm quyền, có thể bị coi là hành vi cố ý phạm tội.
– Các dấu hiệu thường gặp: tổ chức thi công vào ban đêm, huy động lực lượng cản trở người thi hành công vụ, công khai chống đối.
2.4. Chiếm đoạt hoặc xâm chiếm trái phép tài sản
– Điều 170, 176, 177 BLHS có thể áp dụng nếu hành vi mang bản chất chiếm giữ, xâm chiếm tài sản trái pháp luật. Cụ thể, sử dụng công trình xây dựng để chiếm hữu mảnh đất, cản trở chủ đất tiếp cận, cho thuê hoặc bán tài sản đó nhằm trục lợi.
2.5. Không đơn thuần là “tranh chấp dân sự”
– Nếu chỉ là nhầm lẫn hoặc tranh chấp ranh giới đất, thường giải quyết bằng tố tụng dân sự.
– Nhưng nếu có ý thức chiếm đoạt ngay từ đầu, hành vi kiên quyết, có tổ chức và gây hậu quả nghiêm trọng thì sẽ bị xử lý hình sự.
3. Xây nhà trên đất người khác đứng tên thì có phải khôi phục lại tình trạng ban đầu để trả cho chủ đất?
Theo khoản 8 Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định:
” Lấn đất hoặc chiếm đất
Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm (bao gồm cả việc khôi phục lại ranh giới và mốc giới thửa đất), trừ trường hợp đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc thuộc trường hợp được tạm thời sử dụng đất cho đến khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 139 Luật Đất đai và điểm b khoản này;
b) Buộc người được giao đất, cho thuê đất phải làm thủ tục để được bàn giao đất trên thực địa theo quy định đối với trường hợp theo quy định tại khoản 5 Điều này;
c) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.”
Như vậy, trường hợp lấn chiếm đất để xây nhà phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm (bao gồm cả việc khôi phục lại ranh giới và mốc giới thửa đất), trừ trường hợp đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc thuộc trường hợp được tạm thời sử dụng đất cho đến khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 139 Luật Đất đai 2024 và điểm b khoản 8 Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP.
4. Kết luận
Nếu bạn đang gặp phải tình huống tương tự hoặc cần tư vấn về pháp lý đất đai, xây dựng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hãy liên hệ ngay Công ty Luật Phú Thanh để được hỗ trợ nhanh chóng, chính xác và an toàn nhất.

