Trong thực tế, nhiều cuộc hôn nhân được xác lập khi một hoặc cả hai bên đã từng có gia đình riêng trước đó. Khi phát sinh ly hôn, việc xác định đâu là tài sản chung của vợ chồng, đâu là tài sản riêng hình thành từ cuộc hôn nhân trước hoặc có trước khi tái hôn trở nên đặc biệt phức tạp.
Nếu không làm rõ nguồn gốc tài sản, rất dễ xảy ra tranh chấp kéo dài, ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên và cả con cái. Vậy pháp luật hiện hành quy định thế nào về việc xác định tài sản chung – riêng trong trường hợp này?
Tình huống tư vấn cụ thể sau:
Bà Nguyễn Thị Lài (40 tuổi, trú tại phường Thanh Xuân, Hà Nội) hỏi: Tôi và chồng đều từng có gia đình riêng trước khi đến với nhau. Sau 7 năm chung sống, do không còn hòa hợp, chúng tôi quyết định ly hôn. Điều băn khoăn nhất là việc phân chia tài sản sẽ được giải quyết ra sao theo quy định của pháp luật?
Trả lời vấn đề này, Luật sư công ty Luật Phú Thanh cho biết, căn cứ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc phân chia tài sản khi ly hôn được xác định dựa trên hai nhóm chính: tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng.
Đối với tài sản chung, nguyên tắc cơ bản là chia đôi nhưng có xem xét nhiều yếu tố như: hoàn cảnh của gia đình và của mỗi bên vợ, chồng; công sức đóng góp của từng người trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung (trong đó, lao động nội trợ cũng được coi là lao động có thu nhập); việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghề nghiệp; và lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định rõ, tài sản chung của vợ chồng bao gồm: tài sản do vợ chồng tạo ra; thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung; hoặc các tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn cũng được xác định là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc được hình thành từ tài sản riêng. Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng, tài sản đó mặc nhiên được coi là tài sản chung.
Đối với tài sản riêng, Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định gồm: tài sản mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được hình thành từ tài sản riêng; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu cá nhân như đồ dùng cá nhân; và quyền sử dụng đất có trước khi kết hôn. Những tài sản này thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi người và không bị chia khi ly hôn.
Áp dụng vào trường hợp cụ thể, luật sư cho biết, trong trường hợp của bà Nguyễn Thị Lài, các tài sản mà mỗi bên có trước khi kết hôn được xác định là tài sản riêng và không đặt vấn đề phân chia. Những tài sản được tạo lập trong 7 năm hôn nhân được coi là tài sản chung và sẽ được chia theo nguyên tắc “chia đôi nhưng có tính đến công sức và hoàn cảnh của từng bên”.
Riêng đối với nhà đất hoặc tài sản có giá trị lớn, cần làm rõ thời điểm hình thành cũng như nguồn tiền tạo lập để có căn cứ phân chia chính xác, phù hợp quy định pháp luật.
Từ các quy định trên có thể khẳng định, khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng sẽ được phân chia theo quy định pháp luật, còn tài sản riêng của mỗi người vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó.
Một điểm quan trọng là người nào cho rằng tài sản đó là tài sản riêng của mình thì phải có nghĩa vụ chứng minh bằng các tài liệu như bản án ly hôn trước, văn bản thỏa thuận phân chia tài sản, giấy chứng nhận quyền sở hữu, hợp đồng mua bán hoặc chứng từ chuyển tiền.
Nếu không chứng minh được, tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân thường được suy đoán là tài sản chung. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, bà nên rà soát lại toàn bộ hồ sơ pháp lý liên quan đến tài sản trước và trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời có thể tham khảo ý kiến luật sư để được tư vấn cụ thể theo từng loại tài sản nhằm đảm bảo việc phân chia được thực hiện đúng quy định và công bằng.

