Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, không ít trường hợp bị đơn cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng đang bị nguyên đơn xâm phạm. Thay vì phải khởi kiện bằng một vụ án mới, pháp luật cho phép bị đơn thực hiện quyền yêu cầu phản tố để Tòa án xem xét giải quyết ngay trong cùng vụ án.
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy vẫn còn nhiều tranh cãi về điều kiện, phạm vi và thời điểm thực hiện quyền phản tố. Việc hiểu không đúng quy định có thể khiến yêu cầu của bị đơn không được Tòa án chấp nhận xem xét trong cùng vụ án.
Yêu cầu phản tố là yêu cầu của bị đơn đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Trong phạm vi bài viết, Luật Phú Thanh xin trình bày một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS năm 2015) liên quan đến yêu cầu phản tố.
Yêu cầu phản tố của bị đơn là gì? Chủ thể thực hiện?
Quyền được đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn được quy định tại khoản 1 Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 như sau: “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập”.
Có nghĩa là, sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án hoặc sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu độc lập của Tòa án, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn hoặc đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Theo đó, chủ thể thực hiện quyền phản tố là bị đơn. Bị đơn có quyền phản tố đối với:
- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
- Yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Án lệ 44/2021/AL có quy định rõ hơn về bản chất của yêu cầu phản tố như sau: Yêu cầu phản tố là yêu cầu không nằm trong yêu cầu của nguyên đơn, có thể được giải quyết bằng một vụ án độc lập; việc giải quyết yêu cầu phản tố trong cùng vụ án là để kết quả giải quyết chính xác và nhanh hơn.
Yêu cầu phản tố cũng chính là yêu cầu khởi kiện nên phải tuân thủ quy định về thời hiệu khởi kiện. Như vậy, bản chất của yêu cầu phản tố chính là yêu cầu khởi kiện.
Song trong thực tế hiện nay vẫn còn có sự nhầm lẫn giữa yêu cầu phản tố của bị đơn với ý kiến của bị đơn dẫn đến trường hợp Tòa án không xem xét yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc chỉ là ý kiến của bị đơn nhưng Tòa án lại xem xét giải quyết như yêu cầu phản tố của bị đơn.
Việc phân biệt yêu cầu phản tố và ý kiến của bị đơn được Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao như sau:“Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết.”
Ví dụ: Nguyên đơn A khởi kiện yêu cầu bị đơn B trả lại tiền đặt cọc 500 triệu đồng vì cho rằng B không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận. Bị đơn B cho rằng chính A là bên từ chối tiếp tục giao kết hợp đồng nên yêu cầu Tòa án tuyên A mất số tiền đặt cọc theo thỏa thuận đã ký. Yêu cầu của B trong trường hợp này là yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của A.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 200 của BLTTDS năm 2015 thì “Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a. Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
b. Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
c. Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.”
Cụ thể:
- Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có nghĩa vụ đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có nghĩa vụ đối với bị đơn; nên bị đơn có yêu cầu Toà án giải quyết để bù trừ nghĩa
vụ mà họ phải thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. - Yêu cầu phản tố của bị đơn dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố lại đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nếu yêu cầu đó được chấp nhận thì loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vì không có căn cứ.
- Có sự liên quan giữa yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp hai yêu cầu này có mối quan hệ với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án, thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh chóng hơn
Thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố
Theo quy định tại khoản 1 Điều 199 BLTTDS 2015: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có).
Trường hợp cần gia hạn thì bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có đơn đề nghị gia hạn gửi cho Tòa án nêu rõ lý do; nếu việc đề nghị gia hạn là có căn cứ thì Tòa án phải gia hạn nhưng không quá 15 ngày.
Như vậy, thời điểm bị đơn được quyền đưa ra yêu cầu phản tố là 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý của tòa án, trường hợp đặc biệt thì thời hạn này là không quá 30 ngày.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại Án lệ 44/2021/AL quy định về việc áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu phản tố: Do đó, trường hợp có yêu cầu phản tố và có đương sự trong vụ án đề nghị áp dụng thời hiệu khởi kiện thì Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm phải xác định xem yêu cầu phản tố có còn thời hiệu khởi kiện hay không mới đúng quy định pháp luật.
Như vậy, bản chất của về bản chất đưa ra yêu cầu phản tố cũng giống như việc khởi kiện một vụ án. Nên vai trò của bị đơn lúc này đã thay đổi, không chỉ là bị đơn còn có quyền và nghĩa vụ của một nguyên đơn trong vụ án dân sự.

Thời gian và thủ tục yêu cầu phản tố
Theo quy định tại Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy thủ tục yêu cầu phản tố cũng được thực hiện tương tự thủ tục khởi kiện của nguyên đơn:
Bước 1: Nộp yêu cầu phản tố
Bị đơn làm đơn phản tố, gửi đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết.
Bước 2: Tiếp nhận và xem xét đơn phản tố
Tòa án nơi đang giải quyết vụ việc tiến hành thụ lý, xem xét giải quyết đơn phản tố.
Bước 3: Bổ sung đơn yêu cầu phản tố hoặc nhận lại đơn nếu không được Tòa án chấp nhận.
Bước 4: Thông báo kết quả
Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày bị đơn nộp đủ hồ sơ hợp lệ, thẩm phán được phân công có trách nhiệm xem xét đơn và đưa ra quyết định theo quy định tại Điều 195 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015.
Từ quy định trên có thể thấy thời gian xử lý đơn phản tố được thực hiện theo thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, thời hạn xử lý đơn yêu cầu phản tố tối đa là 8 ngày đối với trường hợp nộp đơn trực tiếp và tối đa là 10 ngày đối với trường hợp nộp đơn thông qua dịch vụ bưu chính.
Quy định về án phí đối với yêu cầu phản tố dân sự
Nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí được quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 như sau:
Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí. Theo đó, bị đơn có nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí khi có yêu cầu phản tố trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tạm ứng án phí.
Vì yêu cầu của phản tố của bị đơn được coi như là yêu cầu khởi kiện nên việc xác định án phí của yêu cầu phản tố giống yêu cầu khởi kiện theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Kết luận
Quyền yêu cầu phản tố là một quyền tố tụng quan trọng của bị đơn được pháp luật ghi nhận nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
Tuy nhiên, để yêu cầu phản tố được Tòa án thụ lý xem xét, bị đơn cần bảo đảm đáp ứng đúng các điều kiện về nội dung cũng như thời điểm thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc nắm rõ các quy định này sẽ giúp đương sự chủ động hơn trong quá trình tham gia tố tụng và bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình.

