Tội sử dụng ma túy phải chịu trách nhiệm hình sự như thế nào từ 01/7/2025?

Tội sử dụng ma túy phải chịu trách nhiệm hình sự như thế nào từ 01/7/2025?

Ma túy luôn được xem là hiểm họa của toàn xã hội, không chỉ gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần của người sử dụng mà còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm nguy hiểm khác. Chính vì vậy, pháp luật Việt Nam luôn có những quy định chặt chẽ nhằm kiểm soát, ngăn chặn và xử lý các hành vi liên quan đến ma túy.

Thông qua Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự đã được thông qua ngày 25/6/2025, chính thức có hiệu lực từ 01/7/2025 đã bổ sung quy định về tội sử dụng trái phép chất ma túy.

Bài viết dưới đây, công ty Luật Phú Thanh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn người sử dụng ma túy có bị xử lý hình sự hay không và những trường hợp nào có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định mới nhất.

1. Người sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu như thế nào?

Theo quy định tại khoản 10 Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy 2021, người sử dụng trái phép chất ma túy là người có hành vi sử dụng chất ma túy mà không được sự cho phép của người hoặc cơ quan chuyên môn có thẩm quyền và xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể có kết quả dương tính.

Tại Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 chỉ quy định xử lý về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội danh này chủ yếu là đối với người tàng trữ để sử dụng.

Bộ luật Hình sự sửa đổi 2025 hiệu lực từ 01/7/2025 đã quy định thêm tội danh “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Điều 256a) theo hướng xử lý những người đang trong quá trình cai nghiện hoặc vừa kết thúc quá trình cai nghiện ma túy mà tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, nhằm giảm tình trạng sử dụng và tăng hiệu quả quản lý.

Tội sử dụng ma túy phải chịu trách nhiệm hình sự như thế nào từ 01/7/2025?
Người sử dụng ma tuý trái phép – Ảnh minh hoạ

2. Các trường hợp sử dụng ma túy phải chịu trách nhiệm hình sự từ 01/7/2025

Theo đó, khoản 20 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025 quy định, người sử dụng trái phép chất ma túy bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm khi thuộc một trong các trường hợp sau:

(1) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy

Thời hạn cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 06 tháng đến 12 tháng theo quy định khoản 1 Điều 30, khoản 2 Điều 31 và khoản 3 Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. 

Người đang tham gia điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế được chấm dứt điều trị khi có nguyện vọng không tiếp tục tham gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định 90/2016/NĐ-CP.

(2) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy

Thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy được quy định tại khoản 1,2 Điều 40 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, cụ thể:

– Người đã hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện, người đã hoàn thành điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chịu sự quản lý sau cai nghiện ma túy trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hoàn thành việc cai nghiện hoặc chấp hành xong quyết định.

– Người đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chịu sự quản lý sau cai nghiện ma túy trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định.

(3) Đang trong thời hạn 2 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy

Theo khoản 2 Điều 23 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy là 01 năm kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định quản lý.

(4) Đang trong thời hạn 2 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy

Bên cạnh đó, người nào tái phạm về tội này thì bị phạt tù từ 3 năm đến 5 năm.

Ngoài ra, người đã bị kết án về tội sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256a (chưa được xóa án tích) mà thực hiện:

– Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy sẽ bị xử lý về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2025. 

– Vận chuyển trái phép chất ma túy nhưng không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy sẽ bị xử lý về tội vận chuyển trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2025

– Chiếm đoạt chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào sẽ bị xử lý về tội chiếm đoạt chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 252 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2025

Quy định về tội danh “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Điều 256a) được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2025.

3. Kết luận

Từ 01/7/2025, người sử dụng trái phép chất ma túy trong những trường hợp nêu trên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều khoản mới. Vì vậy, người nghiện hoặc người đang quản lý sau cai cần tuyệt đối tuân thủ kế hoạch điều trị, tránh tái sử dụng để không rơi vào tình huống bị xử lý hình sự.

(Phương Nguyễn)

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *