Thừa kế theo pháp luật: Con riêng có quyền hưởng di sản như con ruột không?

quyền hưởng di sản

Trong quan hệ gia đình, đặc biệt là sau khi cha mẹ qua đời, vấn đề chia di sản thừa kế thường phát sinh nhiều vướng mắc – nhất là giữa con đẻ và con riêng. Nhiều người vẫn thắc mắc: Con riêng có được hưởng di sản thừa kế như con ruột không? Và trường hợp nào thì bị mất quyền hưởng di sản?

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 (và các văn bản hướng dẫn liên quan), quyền thừa kế của con riêng – con đẻ được pháp luật xác định cụ thể, dựa trên mối quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng hợp pháp. Bài viết dưới đây công ty Luật Phú Thanh sẽ giúp bạn hiểu rõ quyền thừa kế của con đẻ, con riêng, cũng như liệt kê những người không được hưởng di sản thừa kế theo quy định mới nhất năm 2025.

1. Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật Dân sự 2015 – Chương XXIII: Thừa kế
  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014
  • Nghị định 123/2015/NĐ-CP (về đăng ký hộ tịch, quan hệ nuôi con)
  • Án lệ số 02/2016/AL (về xác định quyền thừa kế của con riêng khi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng)

2. Con đẻ và con riêng có được hưởng di sản thừa kế như nhau không?

Theo Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về những trường hợp thừa kế theo pháp luật như sau:

Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

Khoản 1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Khoản 2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Bên cạnh đó, theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:

“Người thừa kế theo pháp luật”

Khoản 1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Khoản 2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Khoản 3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

=> Căn cứ trên quy định hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Như vậy, hiện nay pháp luật không có sự phân biệt con đẻ và con riêng của người mất khi hưởng thừa kế theo pháp luật. Cho nên, trường hợp người mất không để lại di chúc thì con đẻ và con riêng của người mất được hưởng di sản thừa kế như nhau.

quyền hưởng di sản
Con đẻ và con riêng có được hưởng di sản thừa kế như nhau không?

3. Trường hợp nào không được hưởng di sản thừa kế?

Theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định những người không được quyền hưởng di sản thừa kế bao gồm:

Người không được quyền hưởng di sản

Khoản 1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Khoản 2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Như vậy, con đẻ và con riêng của người mất không được quyền hưởng di sản thừa kế nếu thuộc một trong các trường hợp nêu trên.

Lưu ý: Những người quy định nêu trên vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Kết Luận: Con đẻ và con riêng đều có thể được hưởng di sản thừa kế như nhau, nếu đáp ứng điều kiện có quan hệ huyết thống hoặc có chăm sóc, nuôi dưỡng thực tế. Ngược lại, những người có hành vi xâm hại, gian dối, hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ với người chết có thể bị tước quyền thừa kế.

Nếu bạn đang vướng mắc trong việc xác định quyền thừa kế, lập di chúc hoặc chia di sản, hãy liên hệ Công ty Luật Phú Thanh – đội ngũ luật sư chuyên thừa kế, dân sự sẽ tư vấn chi tiết và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bạn.

(Phương Nguyễn)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *